“Giải cứu” Đồng bằng Sông Cửu Long: Góc nhìn khác về nhận thức và giải pháp - Tin Tức Hàng Ngày Online -->

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021

“Giải cứu” Đồng bằng Sông Cửu Long: Góc nhìn khác về nhận thức và giải pháp



Nhận thức và phản biện quan điểm “Thuận Thiên” của Giáo Sư Võ Tòng Xuân trên Tạp chí Doanh Nghiệp và Tiếp Thị


1. Cơn “lên đồng tập thể” về Nghị quyết “Thuận Thiên”


Ngày 11/03/2021, Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp Thị có đăng bài phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân nhan đề: “Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời” [1]. Bài báo được trang thông tin tổng hợp Soha dẫn lại nguyên văn và một số báo khác “mượn” các ý chính để tiếp tục đăng tải.


Trước hết, tôi xin có mấy lời thưa trước, cá nhân tôi kính trọng GS Võ Tòng Xuân trong tư cách một nhà giáo, nhà khoa học cả đời gắn bó với cây lúa và nhất là luôn trăn trở cho bà con nông dân vùng ĐBSCL. Tuy vậy, tôi nghĩ, là một nhà khoa học có tiếng lại có cơ hội tiếp xúc với lãnh đạo tầm nguyên thủ quốc gia để tham vấn chính sách vĩ mô thì mọi sự cẩn trọng là không bao giờ thừa. Bởi người lãnh đạo đặt niềm tin vào nhà khoa học, dựa vào những nghiên cứu và đề xuất của nhà khoa học để ban hành chính sách nên nếu nhà khoa học không cẩn trọng, tham vấn sai “một li” sẽ “đi một dặm”, nguy hại khôn lường cho quốc gia dân tộc.


Một là, Nghị quyết 120 ra đời cách đây 3 năm về việc “Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu” nhưng không hiểu sao đến hôm nay – nhất là khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ và bàn giao chức Thủ tướng cho người kế nhiệm thì giới truyền thông mới đồng loạt thi nhau giật tít tán dương ca ngợi cái “Nghị quyết Thuận Thiên” này? Tại sao khi nó vừa ra đời và những lần tổng kết trước đó hiếm ai nói gì về hai chữ “Thuận Thiên”?



Hai là, tại sao một nhà khoa học như GS Võ Tòng Xuân lại có thể phát biểu và tham vấn cho Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (như lời ông kể trong bài báo) một cách cảm tính và thiếu cẩn trọng như thế? Sau đây tôi sẽ lần lượt phản biện những luận điểm chính của GS Võ Tòng Xuân trong bài báo trên.


2. Giáo sư Võ Tòng Xuân có tự mâu thuẫn trong tư duy và nhận thức liên quan đến việc lý giải nguyên nhân hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL hiện nay?


Trước hết, về nhận thức chung, toàn bài báo cho thấy quan điểm tiếp cận để giải cứu ĐBSCL của GS Võ Tòng Xuân là phải “Thuận Thiên” – nghĩa là không nên “cãi trời”. Nói cách khác, theo ông thời gian tới người dân ĐBSCL phải thích nghi với vấn đề biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn hiện nay ở ĐBSCL. Tạm thời tôi chưa bàn sâu về nội hàm của khái niệm “Thuận Thiên”, tôi chỉ muốn phản biện sự mâu thuẫn của chính GS Võ Tòng Xuân khi ông cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự khô hạn và xâm nhập mặn ở ĐBSCL hiện nay “không phải do Trung Quốc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông”.


Có thể thấy, quan điểm này của ông thể hiện rất rõ ngay ở tiêu đề của bài báo cùng lập luận là tấm hình minh họa ông cựu Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa cánh đồng ở tỉnh Vân Nam (theo lời GS Võ Tòng Xuân tình cờ đọc được trên một tờ báo Thái Lan năm 2010). Giáo sư Xuân nói:


“Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thuỷ điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để “giải cứu” cây lúa miền dưới. Nhưng thực tế không phải vậy! Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600m3 – 1.800m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000m3/s vào mùa mưa và 2.000m3/s vào mùa khô. Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan – Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không?”


Thiển nghĩ, tác động của các đập thủy điện ở Trung Quốc gây ra sự khô hạn ở ĐBSCL cụ thể như thế nào, thời gian qua đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới chứng minh và công bố khá nhiều, tôi xin không bàn thêm. Tôi chỉ muốn nhắc lại câu nói của ông bà ta: “Thượng điền tích thủy hạ điền khan”.


GS Xuân nói con người muốn sống phải “Thuận Thiên”, “không nên cãi trời”, tôi đồng ý. Vậy xin hỏi ông, dòng sông Mê Kông tự ngàn xưa là một dòng chảy thông thoáng nhưng giờ đây người Trung Quốc đã xây tổng cộng 11 con đập thủy điện chắn ngang thì có phải là một sự “cãi trời”, “nghịch thiên” không? Tại sao ông không nghĩ rằng chính sự “nghịch thiên” này đã gây ra cảnh khô hạn ngay cho chính quốc gia họ (tỉnh Vân Nam) và các nước ở hạ nguồn sông Mê Kông? Có lẽ nào chỉ qua một tấm hình mang nặng tính tuyên truyền của truyền thông Trung Quốc mà giáo sư Xuân lại khẳng định ĐBSCL hạn hán và xâm nhập mặn chỉ do biến đổi khí hậu toàn cầu chứ không phải tại Trung Quốc xây các đập thủy điện?


Thật sự, tôi rất lấy làm lạ cho cách tư duy này của GS Xuân vì chỉ câu trước câu sau là đã mâu thuẫn, “chỏi” nhau chan chát. Với nhận thức này, GS Võ Tòng Xuân đã xổ toẹt mọi nỗ lực lâu nay các nhà khoa học trên thế giới; các quốc gia có chung dòng chảy sông Mê Kông từng nhiều lần tố cáo Trung Quốc che đậy thông tin về các đập thủy điện nhằm kiểm soát dòng chảy sông Mê Kông? Hóa ra theo GS Xuân những việc làm này của các nhà khoa học về môi trường là không có căn cứ và vô nghĩa hay sao? [2]


3. “Thuận thiên” – cái nhìn cảm tính và lãng lạn hóa của (không chỉ) GS Võ Tòng Xuân


Theo dõi quan điểm của GS Võ Tòng Xuân thời gian qua liên quan đến vấn đề “Thuận Thiên” – thực chất là việc thích nghi, thích ứng với việc hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL, tôi cho rằng ông quá chủ quan, cảm tính còn giới truyền thông thì lại quá hời hợt.



Có thể thấy, lập luận xuyên suốt của ông về chuyện này là “mấy mươi năm qua người dân ĐBSCL làm lúa nhưng không giàu” hay “lúa là cái vòng kim cô kiềm tỏa người dân miền Tây”, vì thế, ông khuyến nghị không nên trồng lúa nữa mà phải chuyển sang nuôi tôm và trồng cây ăn quả…Đó cũng là lý do Nghị quyết 120 – “Nghị quyết Thuận Thiên” có một sự xác lập theo trình tự ưu tiên: Thủy sản, cây ăn trái, lúa. Còn đây là quan điểm của GS Võ Tòng Xuân trong bài báo:


“Trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở ĐBSCL như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1.2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần. Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng.”


Trước hết, phải nói rằng, về thực trạng “người nông dân ĐBSCL làm lúa nhưng không giàu” GS Võ Tòng Xuân nói là không sai. Tuy vậy, về giải pháp, theo tôi là rất cảm tính và lãng mạn hóa.


Xin thưa với GS Xuân rằng, người dân ĐBSCL mấy mươi năm qua làm lúa nhưng không giàu thì một Tư Duy đúng và logic là PHẢI LÀM SAO ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN LÀM LÚA GIÀU LÊN chứ không phải xúi họ bỏ đi cái Sở Trường của mình để chuyển làm cái Sở Đoản khi chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng. Thử hỏi, nếu mấy mươi năm qua người dân miền Tây nhờ cây lúa mà thành đại gia, Việt Nam là một cường quốc thực sự về lúa gạo thì liệu ông có khuyên họ như thế không?


Và cũng xin thưa với GS Xuân, thời gian qua, việc trồng cây ăn trái hay kết hợp “vụ lúa, vụ tôm” trong năm theo như sự tham vấn của ông đã làm cho rất nhiều bà con nông dân nhất là các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau vỡ nợ phải bỏ xứ “đi bình Dương bán nước tương”. Vì sao ư?


Thứ nhất, nước ngọt ở ĐBSCL hiện nay không những bị giảm đi mà quan trọng hơn là bị ô nhiễm nặng (nguyên nhân của vấn đề này tôi xin bàn ở phần sau). Vì thế, cái mô hình kết hợp “vụ lúa vụ tôm” (mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm) của ông trong thực tế hoàn toàn không khả thi. Con tôm là con vật rất khó nuôi, ngoài việc giá thành đầu tư về con giống khá cao thì phương tiện kỹ thuật chăm sóc là điều rất phức tạp. Thế nên, trên thực tế mô hình “vụ lúa vụ tôm” chỉ là nói cho vui, rất hiếm người thành công với mô hình này trong sự ổn định, bền vững.


Thứ hai, nước mặn và nước/đất bị nhiễm mặn là hai khái niệm, hai vấn đề rất khác nhau. Một số địa phương có vị trí địa lý tiếp giáp biển ở ĐBSCL có nước mặn quanh năm (Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh…) thì việc nuôi thủy hải sản nước mặn là điều tất nhiên, chuyện này thì không cần ai khuyến cáo vì bao đời nay người dân đã làm rồi. Tuy vậy, một số địa phương hiện nay có nước/đất bị nhiễm mặn gần đây (diễn ra trong khoảng 3 đến 4 tháng mùa khô) như Vĩnh Long, Cần Thơ, các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày của Bến Tre, Cầu Kè Trà Vinh…) thì việc chuyển đổi từ lúa sang cây ăn trái hay nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ không phải là chuyện đơn giản.


Cây lúa sau 90 ngày đã thu hoạch (khoảng 1,5 tháng cuối là người dân đã siết nước), lâu nay dù không được giá, không giàu nhưng bà con nông dân vẫn còn có gạo để ăn nhưng nếu bỏ hẳn để chuyển sang trồng sầu riêng, cam, xoài, bưởi thì phải từ 3 đến 5 năm mới có thể thu hoạch. Đó là chưa kể việc đất ruộng chuyển sang đất vườn; việc đầu tư cây giống người dân phải bỏ ra một chi phí khá lớn. Trong khi đó, nguồn gen và cây giống chịu hạn mặn vẫn chưa được các nhà khoa học vẫn chưa/đang nghiên cứu và chuyển giao?


Ngoài ra, trước đây, đất rộng người thưa, nay dân số tăng lên, mỗi gia đình trung bình sở hữu 2, 3 công đất ruộng (1000 mét vuông) giờ chuyển sang trồng sầu riêng, cam, xoài, bưởi…như khuyến cáo của ông thì thử hỏi mỗi công đất trồng được bao nhiêu gốc? Và nhất là trong 3 đến 5 năm đó người dân sống bằng gì? Tiền đâu cho con cái học hành?



Thứ ba, thời gian qua hẳn tất cả chúng ta đều đã biết và đã thấy, bài toán quản lý của chính quyền nhà nước liên quan đến vấn đề tìm thị trường – đầu ra cho nông sản không riêng gì cây lúa, không riêng gì ở ĐBSCL là một nan đề chưa/ không giải quyết được. Các quan chức lãnh đạo ngành nông nghiệp luôn lớn giọng bảo người dân trồng lúa lãi 30% nhưng trên thực tế có đúng như vậy đâu?


Vậy nên, lúa là cây dễ trồng, là thế mạnh của Việt Nam nhưng người dân bao đời nay vẫn không giàu, nay GS Xuân xúi họ bỏ đi chuyển sang trồng cây ăn trái, hoa màu, mía hay nuôi tôm, nuôi cá cá ba sa…nhưng đầu ra cho tất cả vẫn là một sự bấp bênh (gần như chủ yếu phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc) thì lấy gì để đảm bảo bà con nông dân vùng ĐBSCL trong tương lai sẽ giàu hơn so với việc trồng lúa? Không phải hiện nay, chính quyền một số địa phương đang kêu gọi “giải cứu nông sản” (thanh long, xoài, củ hành tím, su hào, cam, bưởi….) cho người dân đó sao?


4. Thay lời kết


Thích nghi, thích ứng với môi trường tự nhiên đồng thời chinh phục tự nhiên thật ra là vấn đề thuộc về bản năng của con người, là hai mặt của một vấn đề trong mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên.


Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa nên thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần, Hà Lan thì thấp mặt nước biển, Israel chủ yếu toàn sa mạc. Nếu chỉ nhận thức về “thuận thiên” một cách giản đơn và máy móc chắc chắn Nhật Bản không trở thành cường quốc công nghiệp; Hà Lan không là quốc gia số 1 về các công trình đê biển và Israel không là cường quốc về nông nghiệp công nghệ cao thậm chí xuất khẩu nước sạch…


Để “giải cứu” vùng ĐBSCL trong tương lai, về phương diện nhận thức, việc GS Võ Tòng Xuân và các nhà khoa học khác khuyến nghị người dân phải thích nghi với vấn nạn khô hạn và xâm nhập mặn là không sai. Tuy vậy, những lý giải của ông về nguyên nhân của vấn nạn này theo tôi là cần suy nghĩ lại. Bởi lẽ, sự lý giải này vô tình tạo ra một tiền lệ rất nguy hiểm cho vấn đề thương thảo, đối thoại đấu tranh với nhà cầm quyền Trung Quốc để họ chia sẻ thông tin về việc kiểm soát dòng chảy và nguồn nước sông Mê Kông trong thời gian tới.


Ngoài ra, phải khẳng định rằng, quan điểm phải chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, quy hoạch hay giảm diện tích trồng lúa nhằm thích ứng với những thay đổi do biến đổi khí hậu ở ĐBSCL của GS Võ Tòng Xuân là cần thiết nhưng chuyển đổi và thích ứng như thế nào, lộ trình ra sao là vấn đề không đơn giản.


Nói tóm lại, trong tư cách nhà khoa học, việc bàn thảo và tham vấn các giải pháp mang tầm vĩ mô để xây dựng và phát triển đất nước thiển nghĩ phải hết sức cẩn trọng chứ không nên cảm tính hay tệ hơn là mang nặng tính hình thức, phong trào… Vì “mọi lý thuyết đều màu xám…” chỉ có sự vất vả, thiệt thòi và chiu đựng của người dân ĐBSCL là thực tế đã và đang hiện hữu mà ai cũng đều nhìn thấy.


   Mời xem thêm »



“Giải cứu” Đồng bằng Sông Cửu Long: Góc nhìn khác về nhận thức và giải pháp (Phần 2)



Đồng Bằng Sông Cửu Long Cần Được Tiếp Cận Trên Tinh Thần “Bảo Tồn Để Phát Triển”


1. Tham vấn, xây dựng chính sách không phải chuyện…sáng tác thơ, văn


Cần phải khẳng định rằng, để “giải cứu” ĐBSCL trong thời gian tới, về mặt nhận thức, quan điểm “Thuận Thiên” của các nhà khoa học là không sai. Tuy vậy, điều quan trọng là cần hiểu như thế nào về “thuận thiên”? “Thuận thiên” có phải chỉ thuần thích nghi, thích ứng với vấn đề hạn hán và xâm nhập mặn trong vấn đề chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo thứ tự ưu tiên, thủy hải sản, cây ăn quả và cuối cùng là cây lúa?


Ngoài ra, về phương diện tuyên truyền, thiển nghĩ cần có cách giải thích cụ thể và tường minh hơn. Bà con nông dân là đối tượng chính trong mọi chính sách và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển ĐBSCL trong thời gian tới. Và cái họ cần và mong muốn là sắp tới đây Nhà nước hỗ trợ cho họ như thế nào về các chính sách liên quan đến nguồn lực tài chính; nhà khoa học giúp họ ra sao về mặt kỹ thuật và ứng dụng công nghệ (con/cây giống chịu hạn mặn...); các nhà đầu tư có hỗ trợ và cam kết về đầu ra sản phẩm trên tinh thần cùng có lợi hay không…? Đây mới là vấn đề họ không quan tâm chứ không phải sự hô hào “Thuận Thiên” một cách chung chung, cảm tính. Vì tham vấn và xây dựng chính sách quốc gia mang tầm vĩ mô chứ không phải chuyện sáng tác thơ ca, tiểu thuyết.


Chúng ta nói nhiều về “thuận thiên” trong các buổi hội thảo, hội nghị và trên các phương tiện truyền thông nhưng người dân không hiểu và nhất là thể sống được bằng những mô hình chuyển đổi trong thực tế, phải tha hương cầu thực thì có phải là vô nghĩa, vô bổ và nguy hại ắm không?



2. Giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn nguồn nước ngọt và hệ sinh thái nước ngọt ở ĐBSCL nên là ưu tiên hàng đầu trong quan điểm “Thuận Thiên”


Nền tảng quan trọng làm nên cấu trúc và đặc trưng của vùng ĐBSCL là nguồn tài nguyên đất (phù sa) và hệ sinh thái nước ngọt với vô số sông ngòi, kinh rạch. Tiếp theo mới là hệ sinh thái nước mặn, nước lợ (một số địa phương cố vị trí địa lý giáp biển). Đây chính là điều kiện về tự nhiên góp phần làm nên thế mạnh về kinh tế nông nghiệp của ĐBSCL lâu nay; là lý do khi nhắc đến ĐBSCL chúng ta hay nói đây là “vựa lúa”, “vựa lương thực” của cả nước.


Biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với việc xây quá nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông (sự “nghịch thiên”) là hai nguyên nhân chính gây nên hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Người viết bài này, đã từng nói cả hai vấn đề này hiện tại khó mà thay đổi. Vậy nên, chuyện phải tự cứu lấy mình là điều không ai bàn cãi.


Nhưng vấn đề là làm sao để tự cứu? Từ thực tế về đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những gì đã và đang xảy ra ở ĐBSCL thời gian qua, tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất khi nói về “thuận thiên” là phải làm sao giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng mà vùng đất này đã có, hiện có. Và như trên đã nói, đất phù sa và nguồn tài nguyên nước ngọt là vốn quý của ĐBSCL. Nhưng vốn quý này không những đang ngày một giảm sút, có nguy cơ cạn kiệt mà còn bị chính chúng thời gian qua “vừa xài vừa phá” nên đã bị ô nhiễm nặng. Có hai nguyên nhân chính gây ra sự ô nhiễm này là:


Một là, tư duy và thói quen sản xuất nông nghiệp của người dân (lạm dụng phân thuốc hóa học trong việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản trên ruộng đồng và sông rạch…) đã và đang hủy hoại môi trường đất, nước và toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt ở ĐBSCL.


Trong một báo cáo cách đây 3 năm, World Bank khẳng định có đến 50-60% nông dân trồng lúa ở Việt Nam đã sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức đề nghị; 38 - 70% nông dân các tỉnh phía Nam đang sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức khuyến cáo; khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.


Ngoài ra, các nhà khoa học của tổ chức này đã gọi những khu vực tại ĐBSCL mà các sinh vật bản địa không còn sinh sống nổi là những “vùng đất chết”. [1]



Trong khi đó, từ đầu năm 2020 cho đến ngày 15/6, Tổng cục Hải quan công bố Việt Nam đã nhập khẩu 308 triệu USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu sản xuất mặt hàng này. [2]


Các báo cáo và công bố trên phù hợp với thực trạng hệ sinh thái nước ngọt ở ĐBSCL hiện nay gần như bị hủy diệt. Chẳng ai có thể ngờ được ĐBSCL hôm nay không còn những con tôm, tép, cua, cá đồng…- những sản vật đã đi vào thơ ca, hò vè với một niềm tự hào của người dân nơi đây.


Hai là, mỗi tỉnh thành ở ĐBSCL gần như đều có các khu công nghiệp nhưng việc xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn trước khi xả xuống hai con sông Hậu, sông Tiền gần như là con số 0 tròn trĩnh.


Từ đây, có thể thấy, trước khi tính đến chuyện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để thích nghi với hạn hán và xâm nhập mặn thì vấn đề tối quan trọng là phải bảo vệ, bảo tồn nguồn tài nguyên nước ngọt hệ sinh thái nước ngọt của toàn vùng là vấn đề rất cấp thiết. Bởi nguồn tài nguyên nước ngọt đã khan hiếm mà còn bị ô nhiễm thì việc đầu tư nuôi trồng thủy hải sản, cây ăn quả chắc chắn khó mà thành công như mong muốn. Một khi hai con sông tiền và sông Hậu khô cạn và ô nhiễm thì còn đâu chợ nổi Cái Răng cùng hệ sinh thái vườn tược để phát triển du lịch miệt vườn, sông nước đây…?


Thế nên, “Thuận Thiên” trước hết phải được tiếp cận ở ý thức giữ gìn, tiết kiệm, không hoang phí các nguồn tài nguyên và sản vật đặc trưng; là sự bảo vệ, bảo tồn những gì còn sót lại cùng với đó “hồi sức”, hồi phục lại những gì mà thời gian qua chúng ta đã vô tình hay cố ý xâm hại, bức tử…


Nói khác đi, “Thuận Thiên” trước hết là tinh thần “CỘNG SINH”, “HÒA GIẢI” VỚI TỰ NHIÊN. Tuy vậy, cũng không nên lãng mạn hóa vấn đề này bởi lịch sử phát triển của con người còn là lịch sử phát triển của tri thức với những phát minh, phát kiến nhằm chinh phục tự nhiên. Vì thế, trong chừng mực nào đó chúng ta vẫn có thể thể can thiệp vào tự nhiên với một biên độ cho phép vì “xưa nay nhân định thắng thiên cũng thường”.



3. Thay lời kết


Ở phương diện lịch sử và văn hóa, ĐBSCL trước đây là xứ “ma thiêng nước độc”, “dưới sông sấu lội trên bờ cọp um”, “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tợ bánh canh”…nhưng cha ông ta cũng đã từng bước thích nghi và chinh phục.


Vậy nên, nếu chỉ thuần túy quan niệm “thuận thiên” là “chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp”, là giảm trồng lúa để chuyển sang nuôi tôm, thủy sản thích nghi với hạn mặn thì vẫn là tư duy “khai thác” để phát triển. Nếu như thế thì không cần ai khuyên bảo vì người dân ĐBSCL bao đời nay không phải đã tự thích nghi rồi sao?


Trồng lúa không giàu, họ đào ao, đóng bè nuôi cá ba sa; nuôi cá ba sa thất bại họ chuyển sang trồng dưa hấu, thanh long, khoai lang, hành tím, mía đường; các cư dân ở ven biển từ lâu cũng đã chung sống với con tôm, con cua…Nhưng do phải “tự bơi” là chính nên những năm gần đây có hơn 1,3 triệu người phải bỏ xứ tha phương câu thực. “Đất lành chim đậu”, trước đây, miền Tây dễ sống, giờ khó sống, khó ở nên họ phải tìm đường mưu sinh. Nói cho cùng đây cũng là quy luật, là sự “thuận thiên” đó thôi.


Nói tóm lại, về nhận thức, việc tiếp cận ĐBSCL trước hết bằng quan điểm và góc nhìn BẢO TỒN ĐỂ PHÁT TRIỂN trong đó xem việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên và hệ sinh thái nước ngọt là ưu tiên hàng đầu; là nền tảng quan trọng để triển khai các giải pháp tương thích khác chắc chắn sẽ hạn chế những cách làm mang tính hình thức, phong trào, đối phó (tưởng là “thuận thiên” nhưng có khi lại rất “nghịch thiên”).


   Mời xem thêm »



“Giải cứu” Đồng bằng Sông Cửu Long: Góc nhìn khác về nhận thức và giải pháp (Phần 3)


Nước biển xâm nhập vào các con sông lớn ở miền Tây từ 50-110km. Ảnh: Hữu Khoa/VNE


Đề Xuất Và Gợi Ý Một Số Giải Pháp Trên Tinh Thần “Bảo Tồn Để Phát Triển” ĐBSCL Trong Thời Gian Tới


ĐBSCL hôm nay đã không còn những lợi thế về điều kiện tự nhiên như trước. Nếu như trước đây, người dân “sống chung với lũ” thì nay phải sống chung với hạn mặn. Hay nói khác đi, trước đây là sự thích ứng trong hoàn cảnh “khủng hoảng thừa” (nguồn tài nguyên nước ngọt và đất phù sa tích tụ sau mỗi mùa nước nổi hàng năm) thì nay là “khủng hoảng thiếu”. Vì là “khủng hoàng thiếu” nên việc thích ứng hôm nay khó khăn hơn rất nhiều. Thế nên, câu chuyện “Thuận Thiên” ở ĐBSCL nhất định phải được tiếp cận với tinh thần “bảo tồn để phát triển” chứ không nên tiếp tục “khai thác để phát triển” trong sự hoang phí hoặc đối phó với tầm nhìn ngắn hạn.


Thay đổi tư duy và nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia trong cái nhìn về ĐBSCL


ĐBSCL là xương sống của nền kinh tế nông nghiệp nhưng oái oăm thay cũng là “vùng trũng” của cả nước đặc biệt là về hạ tầng giao thông, văn hóa, giáo dục, y tế... Đây là một thực tế mà ai cũng nhìn thấy.


Để ĐBSCL thoát khỏi lời nguyền - cái nghịch lý “đất giàu người nghèo” quan trọng và trước hết phụ thuộc vào nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Theo đó, có một số vấn đề quan trọng mang tính nguyên tắc chung liên quan đến việc xây dựng và triển khai các chính sách vĩ mô đối với ĐBSCL trong thời gian tới là:



Thứ nhất, xóa bỏ cái nhìn định nhìn định kiến vùng miền trong quy hoạch và phát triển chung về ĐBSCL. Đặc biệt là vấn đề huy động và ưu tiên tập trung nguồn lực về tài chính cho ĐBSCL trong thời gian tới. Dĩ nhiên kèm theo là cơ chế kiểm soát minh bạch, chặt chẽ, tránh những “rơi rớt” dọc đường do thói quen “ăn không chừa một thứ gì của dân”.


Thứ hai, việc “bảo tồn để phát triển” ĐBSCL được nhanh chóng cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách liên quan đến việc bảo vệ, bảo tồn nguồn tài nguyên nước ngọt và hệ sinh thái nước ngọt hiện có. Với tinh thần này, ĐBSCL thời gian tới tuyệt đối không phát triển công nghiệp nặng mà tập trung phát triển công nghiệp nhẹ liên quan đến công nghệ chế biến nông sản và các phụ phẩm nông nghiệp. Nghiêm cấm việc khai thác cát trên hai con sông Tiền, sông Hậu. Bên cạnh đó, là tổng rà soát việc xả thải ở các khu công nghiệp khắp các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt là với Nhà mấy giấy Lee & Man (Hậu Giang) [1]; nhiệt điện than ở huyện Duyên Hải (Trà Vinh) [2]. Trong tương lai, nếu không kiên quyết xử lý vấn đề xả thải ra môi trường nước ở các khu công nghiệp và 2 cơ sở này thì toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt vùng ĐBSCL chắc chắn sẽ bị phá hủy.


Thứ tư, xây dựng chính sách đãi ngộ, “đặt hàng” các nhà khoa học, các chuyên gia về nông nghiệp và môi trường trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm xây dựng và triển khai các giải pháp về kỹ thuật để bảo tồn nguồn nước ngọt như: xây hồ chứa tích trữ nước ngọt vào mùa mưa; kiện toàn hệ thống đê bao tích hợp với việc rửa mặn (giảm độ mặn) ở các cửa khẩu, tuyến sông lớn; nghiên cứu bảo tồn nguồn gen, cây/con giống thích nghi với hạn mặn…


Cuối cùng, phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia, tổ chức quốc tế có uy tín về môi trường và biến đổi khí hậu; các quốc gia có chung nguồn nước sông Mê Kông nhằm tiếp tục đối thoại, đấu tranh với nhà cầm quyền Trung Quốc trong vấn đề chia sẻ thông tin về các đập thủy điện ở thượng nguồn.


Luật hóa việc sản xuất nông nghiệp từng bước thay đổi nhận thức và tư duy của người dân trong vấn đề này


Được biết vừa qua, ông Lê Minh Hoan – Thứ trưởng Bộ NN&PTNN (nguyên cựu Bí thư tỉnh Đồng Tháp) khi trả lời báo chí có nói rằng, trong tương lai người nông dân hoặc bất cứ ai “muốn sản xuất nông nghiệp phải có giấy phép”.


Từ góc nhìn sản xuất nông nghiệp gắn với ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thai nước ngọt; cùng với đó là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị nông sản, tôi cho rằng quan điểm của trên của ông Lê Minh Hoan rất nên được đón nhận và chia sẻ với cái nhìn tích cực nhất thay vì vội vàng phê phán bằng cái nhìn thiếu thiện chí “trồng vài cây cam, cây xoài cũng phải xin phép”.


Nếu xem sản xuất nông nghiệp là một nghề như bao ngành nghề khác trong xã hội thì đã đến lúc bà con nông dân cũng cần trang bị cho mình bên cạnh kinh nghiệm, kỹ thuật là nhận thức liên quan đến vấn đề “đạo đức nghề nghiệp”. Thật khó để bênh vực và bào chữa cho hành vi “hai luống rau” trong cùng một khu vườn vốn khá phổ biến hiện nay. Nghĩa là, luống để gia đình mình ăn thì rất sạch, rất an toàn, còn luống bán ra cho người khác dùng thì mặc kệ. Thậm chí, không ít người vì lợi ích của bản thân còn mang những trái mít, sầu riêng, thanh long… “nhúng” thuốc bảo quản trước khi bán cho chính đồng bào mình mà các cơ quan truyền thông từng phản ánh.



Vấn đề này, nhìn rộng ra, phải chăng còn là một trong nhiều nguyên nhân gây ra tình cảnh “được mùa mất giá” để rồi cả xã hội phải chung tay “giải cứu” mà chúng ta đã từng chứng kiến thời gian qua. Bởi với cách làm trên, sản phẩm nông nghiệp của chúng ta chỉ tiêu thụ trong nội địa hoặc một vài thị trường “quen thuộc”, có phần “dễ dãi” chứ khó có thể thâm nhập vào những thị trường với những yêu cầu nghiêm ngặt liên quan đến các quy chuẩn về bảo vệ môi trường (hủy hoại hệ sinh thái nước ngọt) và nhất là an toàn vệ sinh thực phẩm.


Thế nên, dù xót xa cho sự vất vả của bà con nông dân nhưng thiển nghĩ cũng không nên cảm tính, để rồi vô tình thỏa hiệp hay bỏ qua cho sự bảo thủ, lạc hậu chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bất chấp những hệ lụy lâu dài về sau.


Dĩ nhiên, ở chiều ngược lại cũng không nên quá ảo tưởng xem“giấy phép sản xuất nông nghiệp” như “cây đũa thần” trong một sớm một chiều có thể thay đổi cả một nền nông nghiệp vốn còn nhiều bất cập hiện nay. Thậm chí là cái nhìn cục bộ, duy ý chí mang nặng tính phong trào, hình thức bề nổi…để nó lại trở thành một thứ “giấy phép con” - không những là một bước lùi mà còn làm cho bà con nông dân khổ sở và vất vả hơn.


Từ đây, thiển nghĩ, “giấy phép sản xuất nông nghiệp” nên được tiếp cận ở phương diện nhận thức và tư duy mang tầm chiến lược, vĩ mô thậm chí là mục tiêu quốc gia để củng cố và phát triển nền nông nghiệp nước nhà trong thời gian tới. Cụ thể ở các phương diện như sau:


Một là, tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vấn đề sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; quy trình thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ nông sản gắn với ý thức bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm…theo quy chuẩn quốc gia và quốc tế…


Hai là, xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện để ngày càng có nhiều doanh nhân, tập đoàn chọn nông nghiệp làm ý tưởng khởi nghiệp cũng như phát triển nền nông nghiệp nước nhà theo hướng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong toàn bộ quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ; từ đó góp phần thay đổi thói quen và tập quán canh tác lạc hậu, manh mún hiện nay của đại bộ phận bà con nông dân…Song song đó là chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật công nghệ cũng như định hướng về đầu ra…cho người dân với quy mô gia đình, vừa và nhỏ…


Cuối cùng, quy hoạch tiến đến đến luật hóa việc trồng lúa. Như đã nói ở phần trước, cây lúa là sở trường là thế mạnh của Việt Nam. Việc người dân miền Tây lâu nay làm lúa nhưng không giàu, lỗi trước hết là thuộc về chính quyền Nhà nước trong các chính sách có liên quan về chất lượng giống/gạo, quy trình sản xuất, giá thành đầu tư và nhất là thị trường tiêu thụ. Thế nên, một tư duy đúng để giải quyết bất cập và nghịch lý này là phải làm sao trong thời gian tới chính quyền Nhà nước phải hỗ trợ người dân để họ giàu lên từ việc trồng lúa chứ không phải khuyên họ từ bỏ sở trường và thế mạnh của mình trong khi việc “chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp” vẫn chưa co sự chuẩn bị kỹ càng. Và để giải quyết vấn đề này, thiển nghĩ, đã đến lúc cần phải luật hóa việc trồng lúa nhằm nâng cao chất lượng giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.


Liên quan đến vấn đề này, tôi đồng ý với quan điểm của GS Võ Tòng Xuân cũng nhiều nhà khoa học khác, đó là, thời gian tới chúng ta cần quy hoạch lại diện tích trồng lúa một cách căn cơ và khoa học hơn. Cụ thể, với vị trí địa lý là các tỉnh đầu nguồn của vùng ĐBSCL, nhất là không bị xâm nhập mặn, việc trồng lúa để cần được tập trung về hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, một phần nào đó là Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long…Tuy vậy, theo quan điểm của tôi, đã đến lúc chấm dứt tình trạng trồng lúa 3 vụ để đất đai có thời gian “nghỉ ngơi”.



Tóm lại, một thái độ và tinh thần cầu thị, trách nhiệm trong tư duy và nhận thức để cùng mở ra một hướng đi mới cho nền nông nghiệp nước nhà trong bối cảnh và điều kiện mới là rất cần thiết. Tuy vậy, trước khi triển khai cần có một lộ trình chuẩn bị căn cơ, dài hạn, cẩn trọng đặt trong cái nhìn tổng thể nhằm hướng đến sự chuyên nghiệp hóa, công nghệ hóa nền nông nghiệp. Đặc biệt, tránh cái nhìn cục bộ, duy ý chí hoặc tệ hơn là dùng truyền thông để PR, “dọn đường” cho sự thăng quan tiến chức của một vài cá nhân trong giai đoạn tranh giành và chuyển giao quyền lực.


5. Tổng kết


Nguy cơ tan rã ĐBSCL đang ngày một hiện hữu. Dù muốn dù không việc “giải cứu” ĐBSCL trong tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức và tầm nhìn về quản trị quốc gia của nhà cầm quyền.


Về chuyện này, khách quan và công tâm mà nói, thời gian gần đây, sau khi được nhiều người góp ý, phản biện, tầng lớp “lãnh đạo chóp bu” có vẻ đã biết lắng nghe; bước đầu có sự cầu thị và thay đổi, sửa sai. ĐBSCL vì thế, đã được chú ý và quan tâm nhiều hơn so với trước đó. Riêng vấn đề này cần ghi nhận công lao của ông Nguyễn Xuân Phúc trong tư cách người đứng đầu Chính phủ. Nhưng mừng đó mà cũng lo đó. Ông Phúc nhiệm kỳ tới chắc chắn không còn ngồi ở ghế thủ tướng để tiếp tục triển khai, giám sát Nghị quyết 120. ĐBSCL, vì thế lại phải chờ và phụ thuộc vào nhận thức và tài “thao lược” của một ê kíp Chính phủ mới. Nếu nhưng người mới vẫn tiếp tục bả thủ, không vượt qua cái nhìn định kiến vùng miền hoặc “tư duy nhiệm kỳ” thì mọi chuyện rất có thể đâu sẽ lại vào đấy.


Ở phương diện khác, muốn “giải cứu” ĐBSCL thì tinh thần và trách nhiệm của các nhà khoa học trong tư cách của những trí thức – kẻ sĩ chân chính là vô cùng quan trọng. ĐBSCL muốn phát triển cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: kỹ thuật, công nghệ, môi trường, lịch sử, văn hóa… nhằm tham vấn cho giới lãnh đạo bằng thái độ cầu thị; tránh sự chủ quan, cảm tính…hay tệ hơn chỉ vì tiền, vì phải giải ngân các đề tài, đề án mà bán rẻ phẩm cách.


Nói tóm lại, suy cho cùng, không riêng gì việc “giải cứu” ĐBSCL, quốc gia này, dân tộc này muốn phát triển trường tồn điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta (theo trình tự “Đảng ta”, tầng lớp trí thức, dân chúng) có tự trọng, có biết xấu hổ và nhất là có dám thay đổi sau khi đã nhận ra những sai lầm, sự ích kỷ của bản thân và phe nhóm mình hay không?


“Thuận thiên” không phải chỉ phụ thuộc vào “ý trời”, “mệnh trời”, hay quy luật của tự nhiên một cách giản đơn và máy móc mà “thuận thiên” trước hết là phải “tự hiểu mình” để ứng xử, hành xử theo quy luật của Con Người. Vì con người cũng là một phần của thế giới tự nhiên; trước khi hòa giải, hòa hợp với tự nhiên con người cần phải hòa hợp, hòa giải với chính mình bằng trí tuệ và các giá đạo đức mang tính nền tảng và phổ quát.


   Mời xem thêm »



© Quách Hạo Nhiên
    Viet-Studies

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad

Pages